Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi
Trung Bộ Kinh số 27
Cūḷahatthipadopama Sutta
Tôi nghe như vầy.
Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Lúc ấy, Bà-la-môn Jāṇussoṇi, với cỗ xe do những con ngựa cái kéo, toàn màu trắng, xuất hành từ Sāvatthī vào giữa trưa. Bà-la-môn Jāṇussoṇi thấy du sĩ Pilotika đang từ xa đi đến. Sau khi thấy du sĩ Pilotika, liền nói như sau:
– Này Vacchāyana, giữa trưa mà Ngài từ đâu đi đến thế này?
– Này ông, tôi từ chỗ Sa-môn Gotama mà đến.
– Này Vacchāyana, Ngài nghĩ thế nào về sự thông tuệ của Sa-môn Gotama?
– Tôi nghĩ Ngài ấy là bậc trí. Nhưng này ông, tôi là ai mà có thể biết được sự thông tuệ của Sa-môn Gotama chứ! Người nào có thể biết được sự thông tuệ của Sa-môn Gotama, chắc hẳn cũng phải như chính Ngài ấy.
– Quả thật, Ngài Vacchāyana đang hết lời tán thán Sa-môn Gotama.
– Này ông, tôi là ai mà có thể tán thán Sa-môn Gotama chứ! Ngài ấy là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người, được các bậc đáng tán thán ca ngợi.
– Này Vacchāyana, do nhận ra điều gì nơi Sa-môn Gotama mà Ngài lại tin tưởng đến vậy?
– Này ông, ví như một người am hiểu voi rừng đi vào rừng voi. Người ấy thấy một dấu chân voi lớn, dài và rộng. Người ấy đi đến kết luận: ‘Quả thật đó là một con voi lớn.’ Cũng vậy, khi tôi thấy nơi Sa-môn Gotama bốn dấu hiệu, tôi đã đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, và Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn khéo hành trì.’
Bốn dấu hiệu ấy là gì?
Tôi thấy có một số Sát-đế-lỵ học rộng, sắc sảo, biện luận các lập thuyết, tinh tường như chẻ sợi tóc; họ đi đây đó dùng trí tuệ để bẻ gãy các lập thuyết. Họ nghe rằng Sa-môn Gotama sẽ đến một làng hay thị trấn nào đó. Và họ chuẩn bị sẵn câu hỏi: ‘Chúng ta sẽ đến gặp Sa-môn Gotama và hỏi câu này. Nếu ông ấy trả lời như thế này, chúng ta sẽ lập luận để bác bỏ như thế này; còn nếu ông ấy trả lời như thế kia, thì chúng ta cũng sẽ lập luận để bác bỏ như thế kia.’
Họ nghe rằng Sa-môn Gotama đã đến một làng hay thị trấn nào đó. Họ đi đến gặp Sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama dùng pháp thoại để soi sáng, dẫn dắt, khích lệ và làm cho hoan hỷ. Khi được Sa-môn Gotama dùng pháp thoại để soi sáng, dẫn dắt, khích lệ và làm cho hoan hỷ; họ không hề hỏi câu nào, huống chi là lập luận để bác bỏ Ngài. Trái lại, họ còn trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.
Khi tôi thấy dấu hiệu thứ nhất này nơi Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, và Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn khéo hành trì.’
– Lại nữa, tôi lại thấy có một số Bà-la-môn học rộng… một số gia chủ học rộng… một số Sa-môn học rộng, sắc sảo, biện luận các lập thuyết, tinh tường như chẻ sợi tóc; họ đi đây đó dùng trí tuệ để bẻ gãy các lập thuyết. Họ nghe rằng Sa-môn Gotama sắp đến một làng hay thị trấn nào đó. Họ chuẩn bị sẵn câu hỏi: ‘Chúng ta sẽ đến gặp Sa-môn Gotama và hỏi câu này. Nếu ông ấy trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ lập luận để bác bỏ như thế này; còn nếu ông ấy trả lời như thế kia, thì chúng ta cũng sẽ lập luận để bác bỏ như thế kia.’
Họ nghe rằng Sa-môn Gotama đã đến một làng hay thị trấn nào đó. Họ đi đến gặp Sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama dùng pháp thoại để soi sáng, dẫn dắt, khích lệ và làm cho hoan hỷ. Khi được Sa-môn Gotama dùng pháp thoại để soi sáng, dẫn dắt, khích lệ và làm cho hoan hỷ; họ không hề hỏi câu nào, huống chi là lập luận để bác bỏ Ngài. Trái lại, họ xin Sa-môn Gotama được xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình. Và Sa-môn Gotama đã cho họ xuất gia.
Sau khi xuất gia, họ sống viễn ly, không phóng dật, nỗ lực và chuyên chú. Không bao lâu sau, mục đích tối thượng mà những thiện nam tử chân chính từ bỏ gia đình để xuất gia – cứu cánh của phạm hạnh – họ tự mình thắng tri và thực chứng ngay trong đời này, chứng đạt và an trú. Họ thốt lên rằng: ‘Này ông, suýt chút nữa chúng ta đã bị hủy hoại! Suýt chút nữa chúng ta đã hỏng mất rồi! Vì trước đây, chúng ta không phải Sa-môn mà tự nhận là Sa-môn, không phải Bà-la-môn mà tự nhận là Bà-la-môn, không phải A-la-hán mà tự nhận là A-la-hán. Giờ đây, chúng ta mới thật sự là Sa-môn, mới thật sự là Bà-la-môn, mới thật sự là A-la-hán.’
Khi tôi thấy dấu hiệu thứ tư này nơi Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, và Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn khéo hành trì.’
– Này ông, chính vì tôi thấy bốn dấu hiệu này nơi Sa-môn Gotama mà tôi đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, và Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn khéo hành trì.’
Khi nghe như vậy, Bà-la-môn Jāṇussoṇi bước xuống khỏi cỗ xe ngựa toàn màu trắng, đắp thượng y một bên vai, hướng về phía Thế Tôn, chắp tay đảnh lễ, rồi ba lần thốt lên lời cảm thán: ‘Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác. Mong rằng một lúc nào đó chúng tôi cũng được gặp Tôn giả Gotama; mong rằng sẽ có dịp được thưa chuyện với Ngài.’
Sau đó, Bà-la-môn Jāṇussoṇi đi đến chỗ Thế Tôn; đến nơi, ông chào hỏi Thế Tôn theo phép lịch sự và lễ nghĩa, rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jāṇussoṇi thuật lại với Thế Tôn toàn bộ cuộc đối thoại đã diễn ra với du sĩ Pilotika.
Khi nghe vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Jāṇussoṇi:
– Này Bà-la-môn, chỉ với chừng ấy thì ví dụ dấu chân voi chưa trọn vẹn. Này Bà-la-môn, ví dụ dấu chân voi được trình bày đầy đủ như thế nào, hãy lắng nghe và khéo tác ý, ta sẽ giảng.
– Vâng, thưa Ngài.
Bà-la-môn Jāṇussoṇi đáp lời Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
– Này Bà-la-môn, ví như một người am hiểu voi rừng đi vào rừng voi. Người ấy thấy một dấu chân voi lớn, dài và rộng. Nếu là người am hiểu voi rừng thì chưa vội đi đến kết luận: ‘Quả thật đó là một con voi lớn.’ Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có loại voi cái giống lùn, có dấu chân lớn; dấu chân đó cũng có thể là của chúng.
Người ấy đi theo dấu chân đó. Khi đang đi theo, người ấy thấy một dấu chân voi lớn, dài và rộng, và có vết cọ xát ở trên cao. Nếu là người am hiểu voi rừng thì vẫn chưa vội đi đến kết luận: ‘Quả thật đó là một con voi lớn.’ Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có loại voi cái giống Kāḷārikā [1], có dấu chân lớn; dấu chân đó cũng có thể là của chúng.
Người ấy đi theo dấu chân đó. Khi đang đi theo, người ấy thấy một dấu chân voi lớn, dài và rộng, có vết cọ xát ở trên cao, và những vết rạch ở trên cao do ngà gây ra. Nếu là người am hiểu voi rừng thì vẫn chưa vội đi đến kết luận: ‘Quả thật đó là một con voi lớn.’ Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có loại voi cái giống Kaṇerukā [2], có dấu chân lớn; dấu chân đó cũng có thể là của chúng.
Người ấy theo dấu chân đó. Khi đang đi theo, người ấy thấy một dấu chân voi lớn, dài và rộng, có vết cọ xát ở trên cao, có những vết rạch ở trên cao do ngà gây ra, và những cành cây bị gãy ở trên cao. Rồi người ấy thấy chính con voi đó, ở dưới gốc cây hoặc ở chỗ trống; đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm. Khi đó, người ấy mới đi đến kết luận: ‘Đây chính là con voi lớn ấy.’
– Này Bà-la-môn, ở đời này, khi một vị Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Sau khi tự thân chứng ngộ bằng thắng trí, Ngài tuyên thuyết cho thế gian này – bao gồm chư Thiên, Māra, Phạm thiên; cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Ngài thuyết giảng Chánh Pháp toàn thiện ở đoạn đầu, toàn thiện ở đoạn giữa, toàn thiện ở đoạn cuối, đầy đủ nghĩa và văn. Ngài truyền dạy đời sống phạm hạnh viên mãn và thanh tịnh.
Có người nghe pháp ấy – một gia chủ, người con trai gia chủ, hay người sinh ra trong bất kỳ giai cấp nào khác. Sau khi nghe pháp, vị ấy khởi lòng tín tâm đối với Như Lai. Khi đã khởi tín tâm, vị ấy suy nghĩ rằng: ‘Đời sống gia đình thật chật hẹp, đầy bụi trần; đời sống xuất gia thật rộng mở. Không dễ gì cho người tại gia hành trì phạm hạnh viên mãn và thanh tịnh, trong sạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp y hoại sắc, rời khỏi gia đình, bước vào đời sống không gia đình.’
Sau một thời gian, vị ấy từ bỏ tài sản dù nhỏ hay lớn, từ bỏ quyến thuộc dù ít hay nhiều, cạo bỏ râu tóc, đắp y hoại sắc, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Sau khi xuất gia như vậy, vị ấy sống thành tựu học giới và nếp sống của các Tỳ-kheo; từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh, đặt xuống gậy và vũ khí, biết hổ thẹn, có lòng từ, sống thương xót vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Từ bỏ lấy của không cho, vị ấy tránh xa lấy của không cho; chỉ nhận những gì được cho, với tự thân thanh tịnh, không trộm cắp. Từ bỏ đời sống không phạm hạnh, vị ấy sống phạm hạnh, sống cách xa, tránh xa dâm dục của người tại gia.
Từ bỏ nói dối, vị ấy tránh xa nói dối; nói lời chân thật, kiên định với sự thật, đáng tin, đáng tín, không lừa dối đời. Từ bỏ lời nói chia rẽ, vị ấy tránh xa lời nói chia rẽ; nghe ở đây không đem nói ở kia để gây chia rẽ những người này, nghe ở kia không đem nói ở đây để gây chia rẽ những người kia; vị ấy hàn gắn những ai chia rẽ, duy trì những ai hòa hợp; lấy hòa hợp làm niềm vui, hoan hỷ trong hòa hợp, vui thích trong hòa hợp – vị ấy nói lời đưa đến hòa hợp.
Từ bỏ lời nói thô ác, vị ấy tránh xa lời nói thô ác; vị ấy nói những lời nhã nhặn, êm tai, dễ mến, chạm đến lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích, làm hài lòng nhiều người – vị ấy nói những lời như vậy.
Từ bỏ lời nói phù phiếm, vị ấy tránh xa lời nói phù phiếm; nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều lợi ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật; vị ấy nói những lời đáng ghi nhớ, đúng thời, có căn cứ, có chừng mực, mang lại lợi ích.
Vị ấy tránh xa việc làm hại các loại cây cỏ và hạt giống. Vị ấy chỉ ăn một bữa mỗi ngày, không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Vị ấy tránh xa việc xem múa, hát, nhạc và các trò giải trí. Vị ấy tránh xa việc dùng vòng hoa, nước hoa, mỹ phẩm, trang điểm và trang sức. Vị ấy tránh xa việc dùng giường cao và giường sang trọng. Vị ấy tránh xa việc nhận vàng bạc. Vị ấy tránh xa việc nhận lúa gạo sống. Vị ấy tránh xa việc nhận thịt sống. Vị ấy tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ. Vị ấy tránh xa việc nhận nam nô và nữ tỳ. Vị ấy tránh xa việc nhận dê và cừu. Vị ấy tránh xa việc nhận gà và heo. Vị ấy tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa. Vị ấy tránh xa việc nhận ruộng vườn và đất đai. Vị ấy tránh xa việc đưa tin và môi giới. Vị ấy tránh xa việc mua bán. Vị ấy tránh xa sự gian lận trong cân, đong, đo và tiền bạc. Vị ấy tránh xa việc hối lộ, lừa gạt, gian mưu và thủ đoạn. Vị ấy tránh xa việc chặt chém, giết hại, giam cầm, chiếm đoạt, cướp giật và bạo lực.
Vị ấy sống biết đủ với y áo đủ che thân và vật khất thực đủ nuôi bụng. Đi đến đâu, vị ấy chỉ mang theo những thứ ấy. Ví như con chim, bay đến đâu cũng chỉ mang theo đôi cánh; cũng vậy, vị Tỳ-kheo biết đủ với y áo đủ che thân và vật khất thực đủ nuôi bụng. Đi đến bất cứ nơi nào, vị ấy chỉ mang theo những thứ ấy.
Thành tựu giới đức của bậc Thánh này, vị ấy cảm nhận trong nội tâm sự an lạc không lỗi lầm.
…
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vì nếu sống không phòng hộ nhãn căn thì tham dục, ưu não và các pháp ác bất thiện sẽ xâm nhập; nên vị ấy thực hành để phòng hộ nó, bảo hộ nhãn căn, thành tựu sự phòng hộ nơi nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân xúc chạm các xúc… khi ý nhận biết các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vì nếu sống không phòng hộ ý căn thì tham dục, ưu não và các pháp ác bất thiện sẽ xâm nhập, nên vị ấy thực hành để phòng hộ nó, bảo hộ ý căn, thành tựu sự phòng hộ nơi ý căn.
Thành tựu sự phòng hộ các căn của bậc Thánh này, vị ấy cảm nhận trong nội tâm sự an lạc thuần khiết.
Vị ấy tỉnh giác khi đi tới và đi lui; tỉnh giác khi nhìn thẳng và nhìn quanh; tỉnh giác khi co tay duỗi tay; tỉnh giác khi mang y và bát; tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, nếm; tỉnh giác khi đại tiện và tiểu tiện; tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, khi nói và im lặng.
…
Thành tựu giới đức của bậc Thánh này, thành tựu sự tri túc của bậc Thánh này, thành tựu sự phòng hộ các căn của bậc Thánh này, thành tựu chánh niệm và tỉnh giác của bậc Thánh này; vị ấy tìm đến trú xứ thanh vắng: khu rừng, gốc cây, núi, khe núi, hang động, bãi tha ma, rừng sâu, chỗ đất trống, hay đống rơm. Sau khi khất thực trở về, sau bữa ăn, vị ấy ngồi xuống, xếp chân kiết già, giữ thân thẳng, thiết lập niệm trước mặt. Từ bỏ tham dục đối với thế gian, vị ấy sống với tâm không còn tham dục; vị ấy thanh lọc tâm khỏi tham dục. Từ bỏ sân hận và ác ý, vị ấy sống với tâm không sân hận, thương xót vì lợi ích của tất cả chúng sinh; vị ấy thanh lọc tâm khỏi sân hận và ác ý. Từ bỏ hôn trầm và thụy miên, vị ấy sống không còn hôn trầm và thụy miên, duy trì tưởng về ánh sáng, chánh niệm và tỉnh giác; vị ấy thanh lọc tâm khỏi hôn trầm và thụy miên. Từ bỏ trạo cử và hối hận, vị ấy sống không còn dao động, với nội tâm an tĩnh; vị ấy thanh lọc tâm khỏi trạo cử và hối hận. Từ bỏ hoài nghi, vị ấy sống vượt qua hoài nghi, không còn do dự đối với các thiện pháp; vị ấy thanh lọc tâm khỏi hoài nghi.
Sau khi từ bỏ năm triền cái – những ô nhiễm của tâm làm suy yếu trí tuệ – vị ấy ly các dục, ly các bất thiện pháp, chứng và an trú Sơ thiền, một trạng thái có tầm có tứ, với hỷ và lạc do viễn ly sinh. Này Bà-la-môn, đó được gọi là một dấu chân của Như Lai, một vết cọ xát của Như Lai, một vết rạch của Như Lai. Thế nhưng, vị Thánh đệ tử vẫn chưa vội đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, và Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn khéo hành trì.’
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị Tỳ-kheo do làm lắng tầm và tứ, nội tâm trở nên trong sáng, tâm hội tụ nhất điểm, chứng và an trú Nhị thiền, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh. Này Bà-la-môn, đó được gọi là một dấu chân của Như Lai, một vết cọ xát của Như Lai, một vết rạch của Như Lai. Thế nhưng, vị Thánh đệ tử vẫn chưa vội đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, và Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn khéo hành trì.’
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị Tỳ-kheo do ly hỷ an trú xả, chánh niệm và tỉnh giác, thân cảm nhận lạc thọ, chứng và an trú Tam thiền, trạng thái mà các bậc Thánh gọi là: ‘xả – niệm – lạc trú.’ Này Bà-la-môn, đó được gọi là một dấu chân của Như Lai, một vết cọ xát của Như Lai, một vết rạch của Như Lai. Thế nhưng, vị Thánh đệ tử vẫn chưa vội đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, và Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn khéo hành trì.’
Lại nữa, này Bà-la-môn, vị Tỳ-kheo do từ bỏ lạc và khổ, và do hỷ và ưu đã diệt trước, chứng và an trú Tứ thiền, trạng thái không khổ không lạc, xả – niệm – thanh tịnh. Này Bà-la-môn, đó được gọi là một dấu chân của Như Lai, một vết cọ xát của Như Lai, một vết rạch của Như Lai. Thế nhưng, vị Thánh đệ tử vẫn chưa vội đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, và Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn khéo hành trì.’
Với tâm đã định như vậy, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, lìa các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động, vị ấy hướng tâm nhớ lại các đời sống quá khứ. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ của chính mình: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời; mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời; một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; qua nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại–thành kiếp; nhớ rằng: ‘tại chỗ kia, ta có tên như vậy, dòng họ như vậy, giai cấp như vậy, cách nuôi sống như vậy; thọ nhận khổ và lạc như vậy, thọ mạng đến mức như vậy; sau khi chết tại chỗ kia, ta sinh ra ở chỗ nọ; tại chỗ ấy, ta lại có tên như vậy, dòng họ như vậy, giai cấp như vậy, cách nuôi sống như vậy; thọ nhận khổ và lạc như vậy, thọ mạng đến mức như vậy; sau khi chết tại chỗ ấy, ta sinh ra tại đây’; như vậy là nhớ lại các đời sống quá khứ có chi tiết và có bối cảnh. Này Bà-la-môn, đó được gọi là một dấu chân của Như Lai, một vết cọ xát của Như Lai, một vết rạch của Như Lai. Thế nhưng, vị Thánh đệ tử vẫn chưa vội đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, và Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn khéo hành trì.’
Với tâm đã định như vậy, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, lìa các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động, vị ấy hướng tâm để thấy sự chết và tái sinh của các chúng sinh. Với thiên nhãn thanh tịnh, vượt khả năng loài người, vị ấy thấy rõ các chúng sinh chết và tái sinh; thấy họ thấp kém hay cao quý, đẹp hay xấu, đi đến cảnh lành hay cảnh dữ, và biết rõ rằng tất cả đều tùy theo nghiệp của chính mình. Những chúng sinh nào tạo tác các hành vi bất thiện về thân, lời và ý; phỉ báng các bậc Thánh; theo tà kiến, tạo nghiệp trên nền tảng tà kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cảnh khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sinh nào thành tựu các hành vi thiện về thân, lời và ý; không phỉ báng các bậc Thánh; theo chánh kiến, tạo nghiệp trên nền tảng chánh kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào thiện thú, thiên giới. Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt khả năng loài người, vị ấy thấy rõ các chúng sinh chết và tái sinh; thấy họ thấp kém hay cao quý, đẹp hay xấu, đi đến cảnh lành hay cảnh dữ, và biết rõ rằng tất cả đều tùy theo nghiệp của chính mình. Này Bà-la-môn, đó được gọi là một dấu chân của Như Lai, một vết cọ xát của Như Lai, một vết rạch của Như Lai. Thế nhưng, vị Thánh đệ tử vẫn chưa vội đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, và Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn khéo hành trì.’
Với tâm đã định như vậy, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, lìa các ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động, vị ấy hướng tâm đến trí đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ’; tuệ tri như thật: ‘Đây là nguyên nhân của khổ’; tuệ tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt của khổ’; tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’; tuệ tri như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’; tuệ tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt của các lậu hoặc’; tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc’. Này Bà-la-môn, đó được gọi là một dấu chân của Như Lai, một vết cọ xát của Như Lai, một vết rạch của Như Lai. Vị Thánh đệ tử vẫn chưa hoàn toàn đi đến kết luận, nhưng đang đi đến kết luận rằng: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, và Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn khéo hành trì.’
Do biết và thấy như vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi dục lậu, được giải thoát khỏi hữu lậu, được giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã giải thoát, khởi lên trí biết rằng: ‘đã giải thoát.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã được làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’ Này Bà-la-môn, đó được gọi là một dấu chân của Như Lai, một vết cọ xát của Như Lai, một vết rạch của Như Lai. Này Bà-la-môn, đến mức này, vị Thánh đệ tử mới hoàn toàn đi đến kết luận: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, và Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn khéo hành trì.’
Đến mức này, ví dụ dấu chân voi được trình bày đầy đủ và trọn vẹn.
Khi nghe như vậy, Bà-la-môn Jāṇussoṇi bạch với Thế Tôn rằng:
– Thật vi diệu, thưa tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa tôn giả Gotama! Ví như lật lại những gì bị lật úp, mở ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, thắp đèn trong bóng tối – để người có mắt thấy các sắc; cũng vậy, Pháp đã được tôn giả Gotama làm sáng tỏ bằng nhiều phương diện. Con xin nương tựa nơi tôn giả Gotama, Pháp và Tăng đoàn Tỳ-kheo. Xin tôn giả Gotama hãy ghi nhận con là một cư sĩ đã quy y, từ hôm nay cho đến trọn đời.
Vui lòng dẫn nguồn và giữ nguyên nội dung khi chia sẻ !