Đạo Phật không mê tín! Người đi tìm Chánh Pháp

Ðại Kinh Ðoạn Tận Ái

Trung Bộ Kinh số 38

Mahātaṇhāsaṅkhaya Sutta

Dịch giả: Trí Nguyên Phương


Tôi nghe như vầy.

Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.

Lúc bấy giờ, có một Tỳ-kheo tên là Sāti, con trai người đánh cá, đã khởi lên một tà kiến nguy hại như sau: ‘Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này rong ruổi, luân hồi mà không đổi khác.’

Một số Tỳ-kheo nghe rằng: ‘Tỳ-kheo Sāti, con trai người đánh cá, đã khởi lên một tà kiến nguy hại: “Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này rong ruổi, luân hồi mà không đổi khác”’

Rồi các Tỳ-kheo ấy đi đến chỗ Tỳ-kheo Sāti; khi đến nơi, họ hỏi Tỳ-kheo Sāti:

– Này hiền giả Sāti, có đúng là hiền giả đã có tà kiến như sau: ‘Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này rong ruổi, luân hồi mà không đổi khác’?

– Đúng vậy, thưa các hiền giả, theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này rong ruổi, luân hồi mà không đổi khác.

Rồi các Tỳ-kheo ấy, vì muốn Tỳ-kheo Sāti từ bỏ tà kiến nguy hại đó, đã dồn hỏi, truy vấn, giải thích:

– Này hiền giả Sāti, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn, xuyên tạc Thế Tôn là điều không tốt; Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này hiền giả Sāti, bằng nhiều phương cách, Thế Tôn đã dạy rằng thức do duyên sinh, không có sự sinh khởi của thức ngoài các duyên.

Tuy nhiên, dù được các Tỳ-kheo ấy dồn hỏi, truy vấn và giải thích, Tỳ-kheo Sāti, con trai người đánh cá, vẫn cố chấp bám chặt tà kiến nguy hại đó và tiếp tục khẳng định rằng: ‘Thật vậy, này các hiền giả, theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này rong ruổi, luân hồi mà không đổi khác.’

Vì các Tỳ-kheo ấy không thể khiến Tỳ-kheo Sāti từ bỏ tà kiến nguy hại đó, nên họ đi đến chỗ Thế Tôn. Khi đến nơi, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, có một Tỳ-kheo tên là Sāti, con trai người đánh cá, đã khởi lên một tà kiến nguy hại: ‘Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này rong ruổi, luân hồi mà không đổi khác.’
Bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe rằng Tỳ-kheo Sāti có tà kiến như vậy. Rồi chúng con đã đi đến chỗ Tỳ-kheo Sāti; khi đến nơi, chúng con đã hỏi Tỳ-kheo Sāti: ‘Này hiền giả Sāti, có đúng là hiền giả đã khởi lên tà kiến: “Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này rong ruổi, luân hồi mà không đổi khác”?’. Khi được hỏi như vậy, Tỳ-kheo Sāti đã trả lời với chúng con: ‘Đúng vậy, thưa các hiền giả, theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này rong ruổi, luân hồi mà không đổi khác.’
Bạch Thế Tôn, chúng con muốn khiến Tỳ-kheo Sāti từ bỏ tà kiến nguy hại ấy, nên đã dồn hỏi, truy vấn và giải thích: ‘Này hiền giả Sāti, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn, xuyên tạc Thế Tôn là điều không tốt; Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này hiền giả Sāti, bằng nhiều phương cách, Thế Tôn đã dạy rằng thức do duyên sinh, không có sự sinh khởi của thức ngoài các duyên.
Bạch Thế Tôn, mặc dù được chúng con dồn hỏi, truy vấn và giải thích, Tỳ-kheo Sāti vẫn cố chấp bám chặt tà kiến nguy hại ấy và tiếp tục khẳng định rằng: ‘Thật vậy, này các hiền giả, theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này rong ruổi, luân hồi mà không đổi khác.’ Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể khiến Tỳ-kheo Sāti từ bỏ tà kiến nguy hại ấy, nên chúng con đến trình lên Thế Tôn sự việc này.

Rồi Thế Tôn gọi một Tỳ-kheo:

– Này Tỳ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, gọi Tỳ-kheo Sāti, nói rằng: ‘Này hiền giả Sāti, bậc Đạo Sư gọi hiền giả.’

– Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.

Tỳ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ Tỳ-kheo Sāti; khi đến nơi, liền nói với Tỳ-kheo Sāti:

– Này hiền giả Sāti, bậc Đạo Sư gọi hiền giả.

– Thưa vâng, hiền giả.

Tỳ-kheo Sāti đáp lời Tỳ-kheo ấy, rồi đi đến chỗ Thế Tôn. Khi đến nơi, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

Khi Tỳ-kheo Sāti đã ngồi một bên, Thế Tôn nói với vị ấy như sau:

– Này Sāti, có đúng là ông đã có tà kiến nguy hại như sau: ‘Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này rong ruổi, luân hồi mà không đổi khác’?

– Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy. Theo con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này rong ruổi, luân hồi mà không đổi khác.

– Này Sāti, thức ấy là cái gì?

– Bạch Thế Tôn, cái mà nói năng, cái mà cảm thọ, thọ nhận quả của các nghiệp thiện ác chỗ này chỗ kia.

– Này kẻ lầm lạc kia, ông dựa vào đâu mà hiểu giáo pháp Ta thuyết giảng như vậy? Này kẻ lầm lạc kia, chẳng phải bằng nhiều phương cách, Ta đã dạy rằng thức do duyên sinh, không có sự sinh khởi của thức ngoài các duyên.
Này kẻ lầm lạc kia, do sự chấp thủ sai lạc của mình, không những ông đã xuyên tạc Ta, mà còn tự hủy hoại chính mình và tạo nhiều ác nghiệp. Này kẻ lầm lạc kia, điều ấy sẽ đưa đến bất lợi và đau khổ lâu dài cho ông.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Tỳ-kheo Sāti, con trai người đánh cá, có dù chỉ một tia lửa sáng nào trong Pháp và Luật này chăng?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể được! Không thể được, Bạch Thế Tôn.

Khi nghe như vậy, Tỳ-kheo Sāti, con trai người đánh cá, liền im lặng, lúng túng, vai rũ xuống, cúi mặt, ủ rũ, không biết nói gì, rồi ngồi yên. Khi ấy, Thế Tôn sau khi biết Tỳ-kheo Sāti đang im lặng, lúng túng, vai rũ xuống, cúi mặt, ủ rũ, không biết nói gì, liền nói với Tỳ-kheo Sāti rằng:

– Này kẻ lầm lạc kia, ông sẽ được biết đến bởi chính tà kiến nguy hại của mình. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỳ-kheo.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, các ông có hiểu giáo pháp Ta thuyết giảng giống như Tỳ-kheo Sāti, con trai người đánh cá, kẻ do sự chấp thủ sai lạc của mình đã xuyên tạc Ta, tự hủy hoại chính mình và tạo nhiều ác nghiệp không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì bằng nhiều phương cách, Thế Tôn đã dạy rằng thức do duyên sinh, không có sự sinh khởi của thức ngoài các duyên.

– Lành thay, này các Tỳ-kheo! Lành thay, này các Tỳ-kheo! Lành thay khi các ông hiểu giáo pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này các Tỳ-kheo, bằng nhiều phương cách, Ta đã dạy rằng thức do duyên sinh, không có sự sinh khởi của thức ngoài các duyên. Nhưng Tỳ-kheo Sāti, con trai người đánh cá, do chính sự chấp thủ sai lạc của mình mà đã xuyên tạc Ta, tự hủy hoại chính mình và tạo nhiều ác nghiệp. Điều ấy sẽ đưa đến bất lợi và đau khổ lâu dài cho kẻ lầm lạc ấy.

– Này các Tỳ-kheo, thức sinh khởi do nương vào duyên nào thì được gọi tên theo chính duyên ấy. Nương vào mắt và các sắc, thức sinh khởi; thức ấy được gọi là nhãn thức. Nương vào tai và các âm thanh, thức sinh khởi; thức ấy được gọi là nhĩ thức. Nương vào mũi và các mùi, thức sinh khởi; thức ấy được gọi là tỷ thức. Nương vào lưỡi và các vị, thức sinh khởi; thức ấy được gọi là thiệt thức. Nương vào thân và các vật xúc chạm, thức sinh khởi; thức ấy được gọi là thân thức. Nương vào ý và các pháp, thức sinh khởi; thức ấy được gọi là ý thức.

Này các Tỳ-kheo, ví như lửa cháy do nương vào duyên nào thì được gọi tên theo duyên ấy. Nương vào củi, lửa cháy; lửa ấy được gọi là lửa củi. Nương vào dăm gỗ, lửa cháy; lửa ấy được gọi là lửa dăm. Nương vào cỏ, lửa cháy; lửa ấy được gọi là lửa cỏ. Nương vào phân bò, lửa cháy; lửa ấy được gọi là lửa phân bò. Nương vào trấu, lửa cháy; lửa ấy được gọi là lửa trấu. Nương vào rác, lửa cháy; lửa ấy được gọi là lửa rác. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, thức sinh khởi do nương vào duyên nào thì được gọi tên theo chính duyên ấy. Nương vào mắt và các sắc, thức sinh khởi; thức ấy được gọi là nhãn thức. Nương vào tai và các âm thanh, thức sinh khởi; thức ấy được gọi là nhĩ thức. Nương vào mũi và các mùi, thức sinh khởi; thức ấy được gọi là tỷ thức. Nương vào lưỡi và các vị, thức sinh khởi; thức ấy được gọi là thiệt thức. Nương vào thân và các vật xúc chạm, thức sinh khởi; thức ấy được gọi là thân thức. Nương vào ý và các pháp, thức sinh khởi; thức ấy được gọi là ý thức.

– Này các Tỳ-kheo, các ông có thấy hữu tình[1] này đã sinh khởi không?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, các ông có thấy sự sinh khởi của hữu tình này do dưỡng tố (āhāra) không?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, các ông có thấy do dưỡng tố đoạn diệt, hữu tình này có bản chất đoạn diệt không?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, vì do dự rằng: ‘Có phải hữu tình này đã sinh khởi không?’, nên hoài nghi phát sinh, phải không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, vì do dự rằng: ‘Có phải hữu tình này đã sinh khởi do dưỡng tố không?’, nên hoài nghi phát sinh, phải không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, vì do dự rằng: ‘Có phải do dưỡng tố đoạn diệt, hữu tình này có bản chất đoạn diệt không?’, nên hoài nghi phát sinh, phải không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, đối với người thấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Hữu tình này đã sinh khởi’, thì hoài nghi được đoạn trừ, phải không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, đối với người thấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Hữu tình này đã sinh khởi do dưỡng tố’, thì hoài nghi được đoạn trừ, phải không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, đối với người thấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Do dưỡng tố đoạn diệt, hữu tình này có bản chất đoạn diệt’, thì hoài nghi được đoạn trừ, phải không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, như vậy: ‘Hữu tình này đã sinh khởi’; ở đây các ông đã không còn hoài nghi, phải không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, như vậy: ‘Hữu tình này đã sinh khởi do dưỡng tố’, ở đây các ông cũng không còn hoài nghi, phải không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, như vậy: ‘Do dưỡng tố đoạn diệt, hữu tình này có bản chất đoạn diệt’, ở đây các ông cũng không còn hoài nghi, phải không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, như vậy: ‘Hữu tình này đã sinh khởi’, đã được thấy rõ như thật bằng chánh trí tuệ, phải không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, như vậy: ‘Hữu tình này đã sinh khởi do dưỡng tố’, đã được thấy rõ như thật bằng chánh trí tuệ, phải không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, như vậy: ‘Do dưỡng tố đoạn diệt, hữu tình này có bản chất đoạn diệt’, đã được thấy rõ như thật bằng chánh trí tuệ, phải không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, đối với tri kiến này, dù là trong sạch và thanh tịnh như vậy, nếu các ông dính mắc, thích thú, xem là tài sản, xem là của mình, thì liệu các ông có hiểu rằng: ‘Pháp Ta thuyết ví như chiếc bè, là để vượt qua chứ không phải để nắm giữ’ không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, đối với tri kiến này, dù là trong sạch và thanh tịnh như vậy, nếu các ông không dính mắc, không thích thú, không xem là tài sản, không xem là của mình, thì liệu các ông có hiểu rằng: ‘Pháp Ta thuyết ví như chiếc bè, là để vượt qua chứ không phải để nắm giữ’ không?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, có bốn loại dưỡng tố (āhāra) này giúp duy trì các hữu tình đã sinh và hỗ trợ các hữu tình tìm cầu sự sinh. Bốn loại ấy là gì?
Thức ăn vật chất, thô hoặc tế; xúc là thứ hai; tác ý của tâm (cetanā)[2] là thứ ba; thức là thứ tư.

Này các Tỳ-kheo, bốn loại dưỡng tố này lấy gì làm căn nguyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sinh chủng, lấy gì làm nguồn gốc? Bốn loại dưỡng tố này lấy ái làm căn nguyên, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm sinh chủng, lấy ái làm nguồn gốc.

Này các Tỳ-kheo, ái này lấy gì làm căn nguyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sinh chủng, lấy gì làm nguồn gốc? Ái này lấy thọ làm căn nguyên, lấy thọ làm tập khởi, lấy thọ làm sinh chủng, lấy thọ làm nguồn gốc.

Này các Tỳ-kheo, thọ này lấy gì làm căn nguyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sinh chủng, lấy gì làm nguồn gốc? Thọ này lấy xúc làm căn nguyên, lấy xúc làm tập khởi, lấy xúc làm sinh chủng, lấy xúc làm nguồn gốc.

Này các Tỳ-kheo, xúc này lấy gì làm căn nguyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sinh chủng, lấy gì làm nguồn gốc? Xúc này lấy sáu xứ làm căn nguyên, lấy sáu xứ làm tập khởi, lấy sáu xứ làm sinh chủng, lấy sáu xứ làm nguồn gốc.

Này các Tỳ-kheo, sáu xứ này lấy gì làm căn nguyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sinh chủng, lấy gì làm nguồn gốc? Sáu xứ này lấy danh sắc làm căn nguyên, lấy danh sắc làm tập khởi, lấy danh sắc làm sinh chủng, lấy danh sắc làm nguồn gốc.

Này các Tỳ-kheo, danh sắc này lấy gì làm căn nguyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sinh chủng, lấy gì làm nguồn gốc? Danh sắc này lấy thức làm căn nguyên, lấy thức làm tập khởi, lấy thức làm sinh chủng, lấy thức làm nguồn gốc.

Này các Tỳ-kheo, thức này lấy gì làm căn nguyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sinh chủng, lấy gì làm nguồn gốc? Thức này lấy hành làm căn nguyên, lấy hành làm tập khởi, lấy hành làm sinh chủng, lấy hành làm nguồn gốc.

Này các Tỳ-kheo, các hành này lấy gì làm căn nguyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm sinh chủng, lấy gì làm nguồn gốc? Các hành này lấy vô minh làm căn nguyên, lấy vô minh làm tập khởi, lấy vô minh làm sinh chủng, lấy vô minh làm nguồn gốc.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, do vô minh làm duyên, hành sinh khởi; do hành làm duyên, thức sinh khởi; do thức làm duyên, danh sắc sinh khởi; do danh sắc làm duyên, sáu xứ sinh khởi; do sáu xứ làm duyên, xúc sinh khởi; do xúc làm duyên, thọ sinh khởi; do thọ làm duyên, ái sinh khởi; do ái làm duyên, thủ sinh khởi; do thủ làm duyên, hữu sinh khởi; do hữu làm duyên, sinh sinh khởi; do sinh làm duyên, già chết, sầu, than, khổ, ưu, não sinh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

– Điều đã được nói: ‘Do sinh làm duyên, già chết sinh khởi’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do sinh làm duyên mà già chết sinh khởi? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do sinh làm duyên, già chết sinh khởi. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do sinh làm duyên, già chết sinh khởi.’

– Điều đã được nói: ‘Do hữu làm duyên, sinh sinh khởi’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do hữu làm duyên mà sinh sinh khởi? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do hữu làm duyên, sinh sinh khởi. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do hữu làm duyên, sinh sinh khởi.’

– Điều đã được nói: ‘Do thủ làm duyên, hữu sinh khởi’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do thủ làm duyên mà hữu sinh khởi? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thủ làm duyên, hữu sinh khởi. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do thủ làm duyên, hữu sinh khởi.’

– Điều đã được nói: ‘Do ái làm duyên, thủ sinh khởi’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do ái làm duyên mà thủ sinh khởi? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do ái làm duyên, thủ sinh khởi. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do ái làm duyên, thủ sinh khởi.’

– Điều đã được nói: ‘Do thọ làm duyên, ái sinh khởi’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do thọ làm duyên mà ái sinh khởi? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thọ làm duyên, ái sinh khởi. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do thọ làm duyên, ái sinh khởi.’

– Điều đã được nói: ‘Do xúc làm duyên, thọ sinh khởi’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do xúc làm duyên mà thọ sinh khởi? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do xúc làm duyên, thọ sinh khởi. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do xúc làm duyên, thọ sinh khởi.’

– Điều đã được nói: ‘Do sáu xứ làm duyên, xúc sinh khởi’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do sáu xứ làm duyên mà xúc sinh khởi? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do sáu xứ làm duyên, xúc sinh khởi. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do sáu xứ làm duyên, xúc sinh khởi.’

– Điều đã được nói: ‘Do danh sắc làm duyên, sáu xứ sinh khởi’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do danh sắc làm duyên mà sáu xứ sinh khởi? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do danh sắc làm duyên, sáu xứ sinh khởi. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do danh sắc làm duyên, sáu xứ sinh khởi.’

– Điều đã được nói: ‘Do thức làm duyên, danh sắc sinh khởi’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do thức làm duyên mà danh sắc sinh khởi? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thức làm duyên, danh sắc sinh khởi. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do thức làm duyên, danh sắc sinh khởi.’

– Điều đã được nói: ‘Do hành làm duyên, thức sinh khởi’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do hành làm duyên mà thức sinh khởi? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do hành làm duyên, thức sinh khởi. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do hành làm duyên, thức sinh khởi.’

– Điều đã được nói: ‘Do vô minh làm duyên, hành sinh khởi’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do vô minh làm duyên mà hành sinh khởi? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do vô minh làm duyên, hành sinh khởi. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do vô minh làm duyên, hành sinh khởi.’

– Lành thay, này các Tỳ-kheo. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các ông nói như vậy, và Ta cũng nói như vậy: ‘Khi cái này có mặt thì cái kia có mặt, do sự sinh khởi của cái này mà cái kia sinh khởi’; tức là: do vô minh làm duyên, hành sinh khởi; do hành làm duyên, thức sinh khởi; do thức làm duyên, danh sắc sinh khởi; do danh sắc làm duyên, sáu xứ sinh khởi; do sáu xứ làm duyên, xúc sinh khởi; do xúc làm duyên, thọ sinh khởi; do thọ làm duyên, ái sinh khởi; do ái làm duyên, thủ sinh khởi; do thủ làm duyên, hữu sinh khởi; do hữu làm duyên, sinh sinh khởi; do sinh làm duyên, già chết, sầu, than, khổ, ưu, não sinh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Do vô minh đoạn diệt hoàn toàn nhờ ly tham, hành đoạn diệt; do hành đoạn diệt, thức đoạn diệt; do thức đoạn diệt, danh sắc đoạn diệt; do danh sắc đoạn diệt, sáu xứ đoạn diệt; do sáu xứ đoạn diệt, xúc đoạn diệt; do xúc đoạn diệt, thọ đoạn diệt; do thọ đoạn diệt, ái đoạn diệt; do ái đoạn diệt, thủ đoạn diệt; do thủ đoạn diệt, hữu đoạn diệt; do hữu đoạn diệt, sinh đoạn diệt; do sinh đoạn diệt, già chết, sầu, than, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

– Điều đã được nói: ‘Do sinh đoạn diệt, già chết đoạn diệt’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do sinh đoạn diệt mà già chết đoạn diệt? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do sinh đoạn diệt, già chết đoạn diệt. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do sinh đoạn diệt, già chết đoạn diệt.’

– Điều đã được nói: ‘Do hữu đoạn diệt, sinh đoạn diệt’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do hữu đoạn diệt mà sinh đoạn diệt? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do hữu đoạn diệt, sinh đoạn diệt. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do hữu đoạn diệt, sinh đoạn diệt.’

– Điều đã được nói: ‘Do thủ đoạn diệt, hữu đoạn diệt’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do thủ đoạn diệt mà hữu đoạn diệt? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thủ đoạn diệt, hữu đoạn diệt. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do thủ đoạn diệt, hữu đoạn diệt.’

– Điều đã được nói: ‘Do ái đoạn diệt, thủ đoạn diệt’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do ái đoạn diệt mà thủ đoạn diệt? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do ái đoạn diệt, thủ đoạn diệt. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do ái đoạn diệt, thủ đoạn diệt.’

– Điều đã được nói: ‘Do thọ đoạn diệt, ái đoạn diệt’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do thọ đoạn diệt mà ái đoạn diệt? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thọ đoạn diệt, ái đoạn diệt. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do thọ đoạn diệt, ái đoạn diệt.’

– Điều đã được nói: ‘Do xúc đoạn diệt, thọ đoạn diệt’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do xúc đoạn diệt mà thọ đoạn diệt? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do xúc đoạn diệt, thọ đoạn diệt. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do xúc đoạn diệt, thọ đoạn diệt.’

– Điều đã được nói: ‘Do sáu xứ đoạn diệt, xúc đoạn diệt’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do sáu xứ đoạn diệt mà xúc đoạn diệt? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do sáu xứ đoạn diệt, xúc đoạn diệt. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do sáu xứ đoạn diệt, xúc đoạn diệt.’

– Điều đã được nói: ‘Do danh sắc đoạn diệt, sáu xứ đoạn diệt’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do danh sắc đoạn diệt mà sáu xứ đoạn diệt? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do danh sắc đoạn diệt, sáu xứ đoạn diệt. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do danh sắc đoạn diệt, sáu xứ đoạn diệt.’

– Điều đã được nói: ‘Do thức đoạn diệt, danh sắc đoạn diệt’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do thức đoạn diệt mà danh sắc đoạn diệt? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do thức đoạn diệt, danh sắc đoạn diệt. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do thức đoạn diệt, danh sắc đoạn diệt.’

– Điều đã được nói: ‘Do hành đoạn diệt, thức đoạn diệt’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do hành đoạn diệt mà thức đoạn diệt? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do hành đoạn diệt, thức đoạn diệt. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do hành đoạn diệt, thức đoạn diệt.’

– Điều đã được nói: ‘Do vô minh đoạn diệt, hành đoạn diệt’. Này các Tỳ-kheo, có phải là do vô minh đoạn diệt mà hành đoạn diệt? Hay là không phải? Hay ở đây được hiểu như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, do vô minh đoạn diệt, hành đoạn diệt. Ở đây chúng con hiểu như vậy: ‘Do vô minh đoạn diệt, hành đoạn diệt.’

– Lành thay, này các Tỳ-kheo. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các ông nói như vậy, và Ta cũng nói như vậy: ‘Khi cái này không có mặt thì cái kia không có mặt, do sự đoạn diệt của cái này mà cái kia đoạn diệt’; tức là: do vô minh đoạn diệt, hành đoạn diệt; do hành đoạn diệt, thức đoạn diệt; do thức đoạn diệt, danh sắc đoạn diệt; do danh sắc đoạn diệt, sáu xứ đoạn diệt; do sáu xứ đoạn diệt, xúc đoạn diệt; do xúc đoạn diệt, thọ đoạn diệt; do thọ đoạn diệt, ái đoạn diệt; do ái đoạn diệt, thủ đoạn diệt; do thủ đoạn diệt, hữu đoạn diệt; do hữu đoạn diệt, sinh đoạn diệt; do sinh đoạn diệt, già chết, sầu, than, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

– Này các Tỳ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có còn chạy theo quá khứ, với nghi vấn: ‘Tôi đã tồn tại trong quá khứ chăng? Hay tôi không tồn tại trong quá khứ? Tôi đã từng là gì trong quá khứ? Tôi đã từng như thế nào trong quá khứ? Và sau đó, tôi đã trở thành gì trong quá khứ?’ không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có còn chạy theo tương lai, với nghi vấn: ‘Tôi sẽ tồn tại trong tương lai chăng? Hay tôi sẽ không tồn tại trong tương lai? Tôi sẽ là gì trong tương lai? Tôi sẽ như thế nào trong tương lai? Và sau đó, tôi sẽ trở thành gì trong tương lai?’ không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có còn nghi vấn về tự thân ngay trong hiện tại: ‘Tôi có tồn tại chăng? Hay tôi không tồn tại? Tôi là gì? Tôi như thế nào? Hữu tình này từ đâu đến? Và nó sẽ đi về đâu?’ không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nói rằng: ‘Đạo Sư của chúng tôi là người chúng tôi tôn kính, và do tôn kính Đạo Sư nên chúng tôi nói như vậy’ không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có nói rằng: ‘Sa-môn nói như vậy, vì chúng tôi là Sa-môn nên nói như vậy’ không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có theo một vị Đạo Sư khác không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, khi biết như vậy, thấy như vậy, các ông có quay trở lại các nghi lễ, điềm báo và sự cầu may mang tính mê tín của các Sa-môn, Bà-la-môn phàm phu, và xem chúng là cốt lõi không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, chẳng phải rằng chính điều gì các ông tự mình biết, tự mình thấy, tự mình chứng biết, thì các ông nói đúng điều ấy sao?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Lành thay, này các Tỳ-kheo. Này các Tỳ-kheo, các ông đã được Ta dẫn đắt vào Pháp có thể trực tiếp kinh nghiệm, không lệ thuộc thời gian, hãy đến để mà thấy, hướng đến giải thoát, và được người trí tự mình chứng biết.

Này các Tỳ-kheo, Pháp này có thể trực tiếp kinh nghiệm, không lệ thuộc thời gian, hãy đến mà thấy, dẫn đến giải thoát, và được người trí tự mình chứng biết – như vậy, những điều đã được nói đều dựa trên chính điều này mà nói.

– Này các Tỳ-kheo, do sự hội tụ của ba yếu tố mà có sự thụ thai. Nếu cha mẹ có sự giao hợp, nhưng người mẹ không đúng thời thụ thai, và gandhabba[3] không hiện diện, thì không có sự thụ thai. Nếu cha mẹ có sự giao hợp, người mẹ đúng thời thụ thai, nhưng gandhabba không hiện diện, thì không có sự thụ thai. Nhưng khi nào, này các Tỳ-kheo, cha mẹ có sự giao hợp, người mẹ đúng thời thụ thai, và gandhabba hiện diện, thì như vậy, do sự hội tụ của ba yếu tố mà có sự thụ thai.

Này các Tỳ-kheo, người mẹ mang thai ấy trong bụng chín hoặc mười tháng, với nhiều lo lắng, như một gánh nặng nặng nề.

Này các Tỳ-kheo, sau chín hoặc mười tháng trôi qua, người mẹ sinh đứa con ấy, với nhiều lo lắng, như một gánh nặng nặng nề.

Này các Tỳ-kheo, sau khi sinh ra, đứa con ấy được người mẹ nuôi dưỡng bằng chính máu của mình. Theo cách gọi của bậc Thánh, sữa mẹ được xem là máu.

Này các Tỳ-kheo, đứa trẻ ấy, khi lớn lên và các căn đã phát triển đầy đủ, thì chơi các trò chơi của trẻ con, như là: vaṅkaka, ghaṭika, mokkhacika, ciṅgulaka, pattāḷhaka, rathaka, dhanuka.

Này các Tỳ-kheo, khi lớn lên và các căn đã phát triển đầy đủ, đứa trẻ ấy sống trong sự thụ hưởng đầy đủ năm dục cảnh – các sắc do mắt nhận biết, khả ái, khả ý, khả lạc, khả hỷ, liên kết với dục và hấp dẫn; các âm thanh do tai nhận biết… các mùi hương do mũi nhận biết… các vị do lưỡi nhận biết… các xúc chạm do thân nhận biết, khả ái, khả ý, khả lạc, khả hỷ, liên kết với dục và hấp dẫn.

– Khi thấy hình sắc bằng mắt, người ấy đắm nhiễm (sārajjati) đối với hình sắc đáng ưa, phản kháng (byāpajjati) đối với hình sắc không đáng ưa; sống với niệm không được thiết lập nơi thân, với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát và tuệ giải thoát – nơi mà các pháp ác, bất thiện được đoạn diệt không dư sót.
Như vậy, người ấy rơi vào thuận theo và chống đối; khi cảm thọ bất kỳ cảm thọ nào – lạc, khổ hay không lạc không khổ – người ấy ưa thích, tán thành và bám chặt vào cảm thọ đó. Do ưa thích, tán thành và bám chặt cảm thọ ấy, nên khởi lên sự tham đắm (nandī). Sự tham đắm đối với các cảm thọ chính là chấp thủ; do chấp thủ làm duyên, hữu sinh khởi; do hữu làm duyên, sinh sinh khởi; do sinh làm duyên, già chết, sầu, than, khổ, ưu, não phát sinh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

– Khi nghe âm thanh bằng tai… khi ngửi mùi bằng mũi… khi nếm vị bằng lưỡi… khi xúc chạm bằng thân… khi nhận biết các pháp bằng ý, người ấy đắm nhiễm đối với các pháp đáng ưa, phản kháng đối với các pháp không đáng ưa; sống với niệm không được thiết lập nơi thân, với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát và tuệ giải thoát – nơi mà các pháp ác, bất thiện được đoạn diệt không dư sót.
Như vậy, người ấy rơi vào thuận theo và chống đối; khi cảm thọ bất kỳ cảm thọ nào – lạc, khổ hay không lạc không khổ – người ấy ưa thích, tán thành và bám chặt vào cảm thọ đó. Do ưa thích, tán thành và bám chặt cảm thọ ấy, nên khởi lên sự tham đắm. Sự tham đắm đối với các cảm thọ chính là chấp thủ; do chấp thủ làm duyên, hữu sinh khởi; do hữu làm duyên, sinh sinh khởi; do sinh làm duyên, già chết, sầu, than, khổ, ưu, não phát sinh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

– Này các Tỳ-kheo, ở đời này, khi một vị Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Sau khi tự mình thắng tri và chứng ngộ, Ngài tuyên thuyết cho thế gian này – bao gồm chư Thiên, Māra, Phạm thiên; cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Ngài thuyết giảng Chánh Pháp toàn thiện ở đoạn đầu, toàn thiện ở đoạn giữa, toàn thiện ở đoạn cuối, đầy đủ nghĩa và văn. Ngài truyền dạy đời sống phạm hạnh viên mãn và thanh tịnh.

Có người nghe pháp ấy – một gia chủ, người con trai gia chủ, hay người sinh ra trong bất kỳ giai cấp nào khác. Sau khi nghe pháp, vị ấy khởi lòng tín tâm đối với Như Lai. Khi đã khởi tín tâm, vị ấy suy nghĩ rằng: ‘Đời sống gia đình thật chật hẹp, đầy bụi trần; đời sống xuất gia thật rộng mở. Không dễ gì cho người tại gia hành trì phạm hạnh viên mãn và thanh tịnh, trong sạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp y hoại sắc, rời khỏi gia đình, bước vào đời sống không gia đình.’

Sau một thời gian, vị ấy từ bỏ tài sản dù nhỏ hay lớn, từ bỏ quyến thuộc dù ít hay nhiều, cạo bỏ râu tóc, đắp y hoại sắc, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Sau khi xuất gia như vậy, vị ấy sống thành tựu học giới và nếp sống của các Tỳ-kheo; từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh, đặt xuống gậy và vũ khí, biết hổ thẹn, có lòng từ, sống thương xót vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Từ bỏ lấy của không cho, vị ấy tránh xa lấy của không cho; chỉ nhận những gì được cho, với tự thân thanh tịnh, không trộm cắp. Từ bỏ đời sống không phạm hạnh, vị ấy sống phạm hạnh, sống cách xa, tránh xa dâm dục của người tại gia.

Từ bỏ nói dối, vị ấy tránh xa nói dối; nói lời chân thật, kiên định với sự thật, đáng tin, đáng tín, không lừa dối đời. Từ bỏ lời nói chia rẽ, vị ấy tránh xa lời nói chia rẽ; nghe ở đây không đem nói ở kia để gây chia rẽ những người này, nghe ở kia không đem nói ở đây để gây chia rẽ những người kia; vị ấy hàn gắn những ai chia rẽ, duy trì những ai hòa hợp; lấy hòa hợp làm niềm vui, hoan hỷ trong hòa hợp, vui thích trong hòa hợp – vị ấy nói lời đưa đến hòa hợp.

Từ bỏ lời nói thô ác, vị ấy tránh xa lời nói thô ác; vị ấy nói những lời nhã nhặn, êm tai, dễ mến, chạm đến lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích, làm hài lòng nhiều người – vị ấy nói những lời như vậy.

Từ bỏ lời nói phù phiếm, vị ấy tránh xa lời nói phù phiếm; nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều lợi ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật; vị ấy nói những lời đáng ghi nhớ, đúng thời, có căn cứ, có chừng mực, mang lại lợi ích.

Vị ấy tránh xa việc làm hại các loại cây cỏ và hạt giống. Vị ấy chỉ ăn một bữa mỗi ngày, không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Vị ấy tránh xa việc xem múa, hát, nhạc và các trò giải trí. Vị ấy tránh xa việc dùng vòng hoa, nước hoa, mỹ phẩm, trang điểm và trang sức. Vị ấy tránh xa việc dùng giường cao và giường sang trọng. Vị ấy tránh xa việc nhận vàng bạc. Vị ấy tránh xa việc nhận lúa gạo sống. Vị ấy tránh xa việc nhận thịt sống. Vị ấy tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ. Vị ấy tránh xa việc nhận nam nô và nữ tỳ. Vị ấy tránh xa việc nhận dê và cừu. Vị ấy tránh xa việc nhận gà và heo. Vị ấy tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa. Vị ấy tránh xa việc nhận ruộng vườn và đất đai. Vị ấy tránh xa việc đưa tin và môi giới. Vị ấy tránh xa việc mua bán. Vị ấy tránh xa sự gian lận trong cân, đong, đo và tiền bạc. Vị ấy tránh xa việc hối lộ, lừa gạt, gian mưu và thủ đoạn. Vị ấy tránh xa việc chặt chém, giết hại, giam cầm, chiếm đoạt, cướp giật và bạo lực.

Vị ấy sống biết đủ với y áo đủ che thân và vật khất thực đủ nuôi bụng. Đi đến đâu, vị ấy chỉ mang theo những thứ ấy. Ví như con chim, bay đến đâu cũng chỉ mang theo đôi cánh; cũng vậy, vị Tỳ-kheo biết đủ với y áo đủ che thân và vật khất thực đủ nuôi bụng. Đi đến bất cứ nơi nào, vị ấy chỉ mang theo những thứ ấy.

Thành tựu giới đức của bậc Thánh này, vị ấy cảm nhận trong nội tâm sự an lạc không lỗi lầm.

Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vì nếu sống không phòng hộ nhãn căn thì tham dục, ưu não và các pháp ác bất thiện sẽ xâm nhập; nên vị ấy thực hành để phòng hộ nó, bảo hộ nhãn căn, thành tựu sự phòng hộ nơi nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân xúc chạm các xúc… khi ý nhận biết các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vì nếu sống không phòng hộ ý căn thì tham dục, ưu não và các pháp ác bất thiện sẽ xâm nhập, nên vị ấy thực hành để phòng hộ nó, bảo hộ ý căn, thành tựu sự phòng hộ nơi ý căn.

Thành tựu sự phòng hộ các căn của bậc Thánh này, vị ấy cảm nhận trong nội tâm sự an lạc thuần khiết.

Vị ấy tỉnh giác khi đi tới và đi lui; tỉnh giác khi nhìn thẳng và nhìn quanh; tỉnh giác khi co tay duỗi tay; tỉnh giác khi mang y và bát; tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, nếm; tỉnh giác khi đại tiện và tiểu tiện; tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, khi nói và im lặng.

Thành tựu giới đức của bậc Thánh này, thành tựu sự tri túc của bậc Thánh này, thành tựu sự phòng hộ các căn của bậc Thánh này, thành tựu chánh niệm và tỉnh giác của bậc Thánh này; vị ấy tìm đến trú xứ thanh vắng: khu rừng, gốc cây, núi, khe núi, hang động, bãi tha ma, rừng sâu, chỗ đất trống, hay đống rơm. Sau khi khất thực trở về, sau bữa ăn, vị ấy ngồi xuống, xếp chân kiết già, giữ thân thẳng, thiết lập niệm trước mặt. Từ bỏ tham dục đối với thế gian, vị ấy sống với tâm không còn tham dục; vị ấy thanh lọc tâm khỏi tham dục. Từ bỏ sân hận và ác ý, vị ấy sống với tâm không sân hận, thương xót vì lợi ích của tất cả chúng sinh; vị ấy thanh lọc tâm khỏi sân hận và ác ý. Từ bỏ hôn trầm và thụy miên, vị ấy sống không còn hôn trầm và thụy miên, duy trì tưởng về ánh sáng, chánh niệm và tỉnh giác; vị ấy thanh lọc tâm khỏi hôn trầm và thụy miên. Từ bỏ trạo cử và hối hận, vị ấy sống không còn dao động, với nội tâm an tĩnh; vị ấy thanh lọc tâm khỏi trạo cử và hối hận. Từ bỏ hoài nghi, vị ấy sống vượt qua hoài nghi, không còn do dự đối với các thiện pháp; vị ấy thanh lọc tâm khỏi hoài nghi.

Sau khi từ bỏ năm triền cái – những ô nhiễm của tâm làm suy yếu trí tuệ – vị ấy ly các dục, ly các bất thiện pháp, chứng và an trú Sơ thiền, một trạng thái có tầm có tứ, với hỷ và lạc do viễn ly sinh. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo do làm lắng tầm và tứ, nội tâm trở nên trong sáng, tâm hội tụ nhất điểm, chứng và an trú Nhị thiền, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo do ly hỷ an trú xả, chánh niệm và tỉnh giác, thân cảm nhận lạc thọ, chứng và an trú Tam thiền, trạng thái mà các bậc Thánh gọi là: ‘xả – niệm – lạc trú.’ Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo do từ bỏ lạc và khổ, và do hỷ và ưu đã diệt trước, chứng và an trú Tứ thiền, trạng thái không khổ không lạc, xả – niệm – thanh tịnh.

– Khi thấy hình sắc bằng mắt, vị ấy không đắm nhiễm đối với hình sắc đáng ưa, không phản kháng đối với hình sắc không đáng ưa; sống với niệm được thiết lập nơi thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát và tuệ giải thoát – nơi mà các pháp ác, bất thiện được đoạn diệt không dư sót.

Như vậy, vị ấy từ bỏ thuận theo và chống đối; khi cảm thọ bất kỳ cảm thọ nào – lạc, khổ hay không lạc không khổ – vị ấy không ưa thích, không tán thành và không bám chặt vào cảm thọ đó. Do không ưa thích, không tán thành và không bám chặt cảm thọ ấy, nên sự tham đắm đoạn diệt. Do tham đắm đoạn diệt, chấp thủ đoạn diệt; do chấp thủ đoạn diệt, hữu đoạn diệt; do hữu đoạn diệt, sinh đoạn diệt; do sinh đoạn diệt, già chết, sầu, than, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

– Khi nghe âm thanh bằng tai… khi ngửi mùi bằng mũi… khi nếm vị bằng lưỡi… khi xúc chạm bằng thân… khi nhận biết các pháp bằng ý, vị ấy không đắm nhiễm đối với các pháp đáng ưa, không phản kháng đối với các pháp không đáng ưa; sống với niệm được thiết lập nơi thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát và tuệ giải thoát – nơi mà các pháp ác, bất thiện được đoạn diệt không dư sót.

Như vậy, vị ấy từ bỏ thuận theo và chống đối; khi cảm thọ bất kỳ cảm thọ nào – lạc, khổ hay không lạc không khổ – vị ấy không ưa thích, không tán thành và không bám chặt vào cảm thọ đó. Do không ưa thích, không tán thành và không bám chặt cảm thọ ấy, nên sự tham đắm đoạn diệt. Do tham đắm đoạn diệt, chấp thủ đoạn diệt; do chấp thủ đoạn diệt, hữu đoạn diệt; do hữu đoạn diệt, sinh đoạn diệt; do sinh đoạn diệt, già chết, sầu, than, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Này các Tỳ-kheo, hãy ghi nhớ lời dạy ‘Sự giải thoát do đoạn tận ái’ này, đã được Ta trình bày một cách tóm lược. Còn Tỳ-kheo Sāti, con trai người đánh cá, đã bị mắc kẹt trong tấm lưới lớn của ái, trong sự siết chặt của ái.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỳ-kheo hoan hỷ đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Chú thích:
[1] Pāḷi: Bhūta: từ √bhū (trở thành, hiện hữu), nghĩa là “cái đã trở thành”, “cái đã sinh khởi”. Theo chú giải, chỉ “chúng sinh” được hiểu như một tiến trình gồm năm uẩn, không phải một thực thể cố định.
[2] Pāḷi: Cetanā: tác ý, tư tác, sự chủ tâm, ý chí tạo tác. Đức Phật định nghĩa cetanā là nghiệp.
[3] Pāḷi: Gandhabba: theo A-tỳ-đàm, là kiết sanh thức, tức thức sinh khởi ngay sau khi tử thức ở đời trước diệt.