Kinh Căn Nguyên Của Tất Cả Pháp
Trung Bộ Kinh số 1
Mūlapariyāya Sutta
Dịch giả: Trí Nguyên Phương
Tôi nghe như vầy.
Một thời Thế Tôn trú ở Ukkaṭṭhā, tại Subhagavana, dưới gốc cây sāla vương.
Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
– Này các Tỳ-kheo.
– Bạch Thế Tôn.
Các Tỳ-kheo ấy đáp lời Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
– Này các Tỳ-kheo, ta sẽ giảng cho các ông ‘Căn Nguyên Của Tất Cả Pháp’.
Hãy lắng nghe và khéo để tâm, Ta sẽ giảng.
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỳ-kheo ấy đáp lời Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
– Ở đây, này các Tỳ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu, không thân cận các bậc Thánh, không thông thạo pháp của các bậc Thánh, không được rèn luyện trong pháp của các bậc Thánh; không thân cận các bậc Chân nhân, không thông thạo pháp của các bậc Chân nhân, không được rèn luyện trong pháp của các bậc Chân nhân, tưởng tri đất như là đất; sau khi tưởng tri đất như là đất, cho rằng đất, cho rằng trong đất, cho rằng từ đất, cho rằng đất là của tôi, rồi tham đắm đất[1]. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì đất không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri nước như là nước; sau khi tưởng tri nước như là nước, cho rằng nước, cho rằng trong nước, cho rằng từ nước, cho rằng nước là của tôi, rồi tham đắm nước. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì nước không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri lửa như là lửa; sau khi tưởng tri lửa như là lửa, cho rằng lửa, cho rằng trong lửa, cho rằng từ lửa, cho rằng lửa là của tôi, rồi tham đắm lửa. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì lửa không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri gió như là gió; sau khi tưởng tri gió như là gió, cho rằng gió, cho rằng trong gió, cho rằng từ gió, cho rằng gió là của tôi, rồi tham đắm gió. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì gió không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri chúng sinh như là chúng sinh; sau khi tưởng tri chúng sinh như là chúng sinh, cho rằng chúng sinh, cho rằng trong chúng sinh, cho rằng từ chúng sinh, cho rằng chúng sinh là của tôi, rồi tham đắm chúng sinh. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì chúng sinh không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri chư thiên như là chư thiên ...(như trên)... rồi tham đắm chư thiên. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì chư thiên không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri Pajāpati như là Pajāpati ...(như trên)... rồi tham đắm Pajāpati. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì Pajāpati không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri Phạm Thiên như là Phạm Thiên ...(như trên)... rồi tham đắm Phạm Thiên. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì Phạm Thiên không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri Ābhassara thiên như là Ābhassara thiên ...(như trên)... rồi tham đắm Ābhassara thiên. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì Ābhassara thiên không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri Subhakiṇha thiên như là Subhakiṇha thiên ...(như trên)... rồi tham đắm Subhakiṇha thiên. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì Subhakiṇha thiên không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri Vehapphala thiên như là Vehapphala thiên ...(như trên)... rồi tham đắm Vehapphala thiên. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì Vehapphala thiên không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri Abhibhū như là Abhibhū ...(như trên)... rồi tham đắm Abhibhū. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì Abhibhū không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri Không Vô Biên Xứ như là Không Vô Biên Xứ ...(như trên)... rồi tham đắm Không Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì Không Vô Biên Xứ không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri Thức Vô Biên Xứ như là Thức Vô Biên Xứ ...(như trên)... rồi tham đắm Thức Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì Thức Vô Biên Xứ không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri Vô Sở Hữu Xứ như là Vô Sở Hữu Xứ ...(như trên)... rồi tham đắm Vô Sở Hữu Xứ. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì Vô Sở Hữu Xứ không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ như là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ ...(như trên)... rồi tham đắm Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri cái được thấy như là cái được thấy ...(như trên)... rồi tham đắm cái được thấy. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì cái được thấy không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri cái được nghe như là cái được nghe ...(như trên)... rồi tham đắm cái được nghe. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì cái được nghe không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri cái được cảm giác như là cái được cảm giác...(như trên)... rồi tham đắm cái được cảm giác. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì cái được cảm giác không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri cái được nhận thức như là cái được nhận thức...(như trên)... rồi tham đắm cái được nhận thức. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì cái được nhận thức không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri đồng nhất như là đồng nhất ...(như trên)... rồi tham đắm đồng nhất. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì đồng nhất không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri sai biệt như là sai biệt ...(như trên)... rồi tham đắm sai biệt. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì sai biệt không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri tất cả như là tất cả ...(như trên)... rồi tham đắm tất cả. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì tất cả không được người ấy liễu tri.
Tưởng tri Niết-bàn như là Niết-bàn ...(như trên)... rồi tham đắm Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói rằng vì Niết-bàn không được người ấy liễu tri.
Phần trình bày thứ nhất theo phương diện phàm phu đã hoàn tất.
– Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo nào là bậc hữu học, chưa thành tựu và đang sống với chí nguyện hướng đến sự an ổn vô thượng khỏi mọi trói buộc, thắng tri đất như là đất; sau khi thắng tri đất như là đất, chớ cho rằng đất, chớ cho rằng trong đất, chớ cho rằng từ đất, chớ cho rằng đất là của tôi, chớ tham đắm đất. Vì sao vậy? Ta nói rằng đất cần phải được vị ấy liễu tri.
Nước...(như trên)... Lửa...(như trên)... Gió...(như trên)... Chúng sinh...(như trên)... Chư thiên...(như trên)... Pajāpati...(như trên)... Phạm Thiên...(như trên)... Ābhassara thiên...(như trên)... Subhakiṇha thiên...(như trên)... Vehapphala thiên...(như trên)... Abhibhū...(như trên)... Không Vô Biên Xứ...(như trên)... Thức Vô Biên Xứ...(như trên)... Vô Sở Hữu Xứ...(như trên)... Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ...(như trên)... Cái được thấy...(như trên)... Cái được nghe...(như trên)... Cái được cảm giác...(như trên)... Cái được nhận thức...(như trên)... Đồng nhất...(như trên)... Sai biệt...(như trên)... Tất cả...(như trên)...
Thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn; sau khi thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn, chớ cho rằng Niết-bàn, chớ cho rằng trong Niết-bàn, chớ cho rằng từ Niết-bàn, chớ cho rằng Niết-bàn là của tôi, chớ tham đắm Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói rằng Niết-bàn cần phải được vị ấy liễu tri.
Phần trình bày thứ hai theo phương diện bậc hữu học đã hoàn tất.
Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống trọn phạm hạnh, việc cần làm đã làm xong, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích tối thượng đã đạt được, các kiết sử dẫn đến hữu đã đoạn tận, đã giải thoát nhờ chánh trí, thắng tri đất như là đất; sau khi thắng tri đất như là đất, không cho rằng đất, không cho rằng trong đất, không cho rằng từ đất, không cho rằng đất là của tôi, không tham đắm đất. Vì sao vậy? Ta nói rằng đất đã được vị ấy liễu tri.
Nước...(như trên)... Lửa...(như trên)... Gió...(như trên)... Chúng sinh...(như trên)... Chư thiên...(như trên)... Pajāpati...(như trên)... Phạm Thiên...(như trên)... Ābhassara thiên...(như trên)... Subhakiṇha thiên...(như trên)... Vehapphala thiên...(như trên)... Abhibhū...(như trên)... Không Vô Biên Xứ...(như trên)... Thức Vô Biên Xứ...(như trên)... Vô Sở Hữu Xứ...(như trên)... Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ...(như trên)... Cái được thấy...(như trên)... Cái được nghe...(như trên)... Cái được cảm giác...(như trên)... Cái được nhận thức...(như trên)... Đồng nhất...(như trên)... Sai biệt...(như trên)... Tất cả...(như trên)...
Thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn; sau khi thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn, không cho rằng Niết-bàn, không cho rằng trong Niết-bàn, không cho rằng từ Niết-bàn, không cho rằng Niết-bàn là của tôi, không tham đắm Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói rằng Niết-bàn đã được vị ấy liễu tri.
Phần trình bày thứ ba theo phương diện bậc đã tận lậu hoặc đã hoàn tất.
Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống trọn phạm hạnh, việc cần làm đã làm xong, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích tối thượng đã đạt được, các kiết sử dẫn đến hữu đã đoạn tận, đã giải thoát nhờ chánh trí, thắng tri đất như là đất; sau khi thắng tri đất như là đất, không cho rằng đất, không cho rằng trong đất, không cho rằng từ đất, không cho rằng đất là của tôi, không tham đắm đất. Vì sao vậy? Vì tham đã đoạn tận, vì đã ly tham.
Nước...(như trên)... Lửa...(như trên)... Gió...(như trên)... Chúng sinh...(như trên)... Chư thiên...(như trên)... Pajāpati...(như trên)... Phạm Thiên...(như trên)... Ābhassara thiên...(như trên)... Subhakiṇha thiên...(như trên)... Vehapphala thiên...(như trên)... Abhibhū...(như trên)... Không Vô Biên Xứ...(như trên)... Thức Vô Biên Xứ...(như trên)... Vô Sở Hữu Xứ...(như trên)... Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ...(như trên)... Cái được thấy...(như trên)... Cái được nghe...(như trên)... Cái được cảm giác...(như trên)... Cái được nhận thức...(như trên)... Đồng nhất...(như trên)... Sai biệt...(như trên)... Tất cả...(như trên)...
Thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn; sau khi thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn, không cho rằng Niết-bàn, không cho rằng trong Niết-bàn, không cho rằng từ Niết-bàn, không cho rằng Niết-bàn là của tôi, không tham đắm Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì tham đã đoạn tận, vì đã ly tham.
Phần trình bày thứ tư theo phương diện bậc đã tận lậu hoặc đã hoàn tất.
Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống trọn phạm hạnh, việc cần làm đã làm xong, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích tối thượng đã đạt được, các kiết sử dẫn đến hữu đã đoạn tận, đã giải thoát nhờ chánh trí, thắng tri đất như là đất; sau khi thắng tri đất như là đất, không cho rằng đất, không cho rằng trong đất, không cho rằng từ đất, không cho rằng đất là của tôi, không tham đắm đất. Vì sao vậy? Vì sân đã đoạn tận, vì đã ly sân.
Nước...(như trên)... Lửa...(như trên)... Gió...(như trên)... Chúng sinh...(như trên)... Chư thiên...(như trên)... Pajāpati...(như trên)... Phạm Thiên...(như trên)... Ābhassara thiên...(như trên)... Subhakiṇha thiên...(như trên)... Vehapphala thiên...(như trên)... Abhibhū...(như trên)... Không Vô Biên Xứ...(như trên)... Thức Vô Biên Xứ...(như trên)... Vô Sở Hữu Xứ...(như trên)... Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ...(như trên)... Cái được thấy...(như trên)... Cái được nghe...(như trên)... Cái được cảm giác...(như trên)... Cái được nhận thức...(như trên)... Đồng nhất...(như trên)... Sai biệt...(như trên)... Tất cả...(như trên)...
Thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn; sau khi thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn, không cho rằng Niết-bàn, không cho rằng trong Niết-bàn, không cho rằng từ Niết-bàn, không cho rằng Niết-bàn là của tôi, không tham đắm Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì sân đã đoạn tận, vì đã ly sân.
Phần trình bày thứ năm theo phương diện bậc đã tận lậu hoặc đã hoàn tất.
Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống trọn phạm hạnh, việc cần làm đã làm xong, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích tối thượng đã đạt được, các kiết sử dẫn đến hữu đã đoạn tận, đã giải thoát nhờ chánh trí, thắng tri đất như là đất; sau khi thắng tri đất như là đất, không cho rằng đất, không cho rằng trong đất, không cho rằng từ đất, không cho rằng đất là của tôi, không tham đắm đất. Vì sao vậy? Vì si đã đoạn tận, vì đã ly si.
Nước...(như trên)... Lửa...(như trên)... Gió...(như trên)... Chúng sinh...(như trên)... Chư thiên...(như trên)... Pajāpati...(như trên)... Phạm Thiên...(như trên)... Ābhassara thiên...(như trên)... Subhakiṇha thiên...(như trên)... Vehapphala thiên...(như trên)... Abhibhū...(như trên)... Không Vô Biên Xứ...(như trên)... Thức Vô Biên Xứ...(như trên)... Vô Sở Hữu Xứ...(như trên)... Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ...(như trên)... Cái được thấy...(như trên)... Cái được nghe...(như trên)... Cái được cảm giác...(như trên)... Cái được nhận thức...(như trên)... Đồng nhất...(như trên)... Sai biệt...(như trên)... Tất cả...(như trên)...
Thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn; sau khi thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn, không cho rằng Niết-bàn, không cho rằng trong Niết-bàn, không cho rằng từ Niết-bàn, không cho rằng Niết-bàn là của tôi, không tham đắm Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì si đã đoạn tận, vì đã ly si.
Phần trình bày thứ sáu theo phương diện bậc đã tận lậu hoặc đã hoàn tất.
Này các Tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, cũng thắng tri đất như là đất; sau khi thắng tri đất như là đất, không cho rằng đất, không cho rằng trong đất, không cho rằng từ đất, không cho rằng đất là của tôi, không tham đắm đất. Vì sao vậy? Ta nói rằng đất đã được Như Lai liễu tri tận cùng.
Nước...(như trên)... Lửa...(như trên)... Gió...(như trên)... Chúng sinh...(như trên)... Chư thiên...(như trên)... Pajāpati...(như trên)... Phạm Thiên...(như trên)... Ābhassara thiên...(như trên)... Subhakiṇha thiên...(như trên)... Vehapphala thiên...(như trên)... Abhibhū...(như trên)... Không Vô Biên Xứ...(như trên)... Thức Vô Biên Xứ...(như trên)... Vô Sở Hữu Xứ...(như trên)... Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ...(như trên)... Cái được thấy...(như trên)... Cái được nghe...(như trên)... Cái được cảm giác...(như trên)... Cái được nhận thức...(như trên)... Đồng nhất...(như trên)... Sai biệt...(như trên)... Tất cả...(như trên)...
Thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn; sau khi thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn, không cho rằng Niết-bàn, không cho rằng trong Niết-bàn, không cho rằng từ Niết-bàn, không cho rằng Niết-bàn là của tôi, không tham đắm Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói rằng Niết-bàn đã được Như Lai liễu tri tận cùng.
Phần trình bày thứ bảy theo phương diện Như Lai đã hoàn tất.
Này các Tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, cũng thắng tri đất như là đất; sau khi thắng tri đất như là đất, không cho rằng đất, không cho rằng trong đất, không cho rằng từ đất, không cho rằng đất là của tôi, không tham đắm đất.
Vì sao vậy? Sau khi biết rằng: ‘Tham đắm là căn nguyên của khổ’, biết rằng: ‘Do Hữu mà có sự Sinh, và đối với loài đã Sinh thì có già chết.’
Do vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng Như Lai do sự đoạn tận không dư sót các tham ái, do ly tham, do sự diệt, do từ bỏ và xả ly, đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.
Nước...(như trên)... Lửa...(như trên)... Gió...(như trên)... Chúng sinh...(như trên)... Chư thiên...(như trên)... Pajāpati...(như trên)... Phạm Thiên...(như trên)... Ābhassara thiên...(như trên)... Subhakiṇha thiên...(như trên)... Vehapphala thiên...(như trên)... Abhibhū...(như trên)... Không Vô Biên Xứ...(như trên)... Thức Vô Biên Xứ...(như trên)... Vô Sở Hữu Xứ...(như trên)... Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ...(như trên)... Cái được thấy...(như trên)... Cái được nghe...(như trên)... Cái được cảm giác...(như trên)... Cái được nhận thức...(như trên)... Đồng nhất...(như trên)... Sai biệt...(như trên)... Tất cả...(như trên)...
Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, cũng thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn; sau khi thắng tri Niết-bàn như là Niết-bàn, không cho rằng Niết-bàn, không cho rằng trong Niết-bàn, không cho rằng từ Niết-bàn, không cho rằng Niết-bàn là của tôi, không tham đắm Niết-bàn.
Vì sao vậy? Sau khi biết rằng: ‘Tham đắm là căn nguyên của khổ’, biết rằng: ‘Do Hữu mà có sự Sinh, và đối với loài đã Sinh thì có già chết.’
Do vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng Như Lai do sự đoạn tận không dư sót các tham ái, do ly tham, do sự diệt, do từ bỏ và xả ly, đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.
Phần trình bày thứ tám theo phương diện Như Lai đã hoàn tất.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy không hoan hỷ lời Thế Tôn dạy.
Chú thích
Bài kinh này Đức Phật thuyết giảng trên cùng một cấu trúc được lặp lại nhiều lần với các đối tượng khác nhau: đất, nước, lửa, gió, chúng sinh, chư thiên… cho đến Niết-bàn.
Vì mục đích bám sát nguyên văn Pāḷi và tránh đưa vào các diễn giải trực tiếp vào thân bản dịch, người dịch giữ nguyên nhiều cấu trúc có thể gây cảm giác khó hiểu đối với người đọc tiếng Việt. Phần chú thích này được viết nhằm trình bày một số khả năng diễn giải của những cấu trúc ấy.
Nguyên văn:
pathaviṃ pathavito sañjānāti; pathaviṃ pathavito saññatvā pathaviṃ maññati, pathaviyā maññati, pathavito maññati, pathaviṃ me ti maññati, pathaviṃ abhinandati.
Có thể tạm phân tích như sau:
1. pathaviṃ pathavito sañjānāti
Dịch sát: ‘tưởng tri đất như là đất’.
Người này nhận biết đất thông qua tưởng tri (saññā), thông qua ý niệm hay khái niệm về đất. Nói cách khác, người ấy biết đến đất như là đối tượng của nhận thức và khái niệm, nhưng chưa thật sự hiểu rõ bản chất của nó.
2. pathaviṃ maññati
Dịch sát: ‘cho rằng đất’.
Động từ maññati có vùng nghĩa rộng: nghĩ, cho rằng, quan niệm, tưởng tượng, thiết lập một nhận định về đối tượng.
Ở đây có thể tiếp cận theo ít nhất hai hướng:
- ‘nghĩ về đất’, tức suy nghĩ hoặc suy tư liên quan đến đất;
- ‘cho rằng (tôi là) đất’, hiểu theo hướng ngã chấp hoặc thân kiến.
Nguyên văn không nêu trực tiếp chữ ‘tôi’. Tuy nhiên, xét toàn bộ chuỗi pathaviṃ maññati, pathaviyā maññati, pathavito maññati, pathaviṃ me ti maññati, cách hiểu theo hướng ngã chấp giúp giải thích các vế này một cách nhất quán hơn. Vì vậy, cụm từ này được hiểu là: ‘cho rằng (tôi là) đất’.
3. pathaviyā maññati
Dịch sát: ‘cho rằng trong đất’.
Theo cùng hướng diễn giải trên: ‘cho rằng (tôi) trong đất’.
4. pathavito maññati
Dịch sát: ‘cho rằng từ đất’.
Theo cùng logic trên: ‘cho rằng (tôi) từ đất’,
5. pathaviṃ me ti maññati
Dịch sát: ‘cho rằng đất là của tôi’.
Đây là vế duy nhất trong chuỗi maññati mà nội dung đầy đủ được nêu rõ trong nguyên văn.
Theo cách hiểu này, toàn bộ đoạn có thể được diễn đạt như sau:
‘Người ấy tưởng tri đất như là đất; sau khi tưởng tri đất như là đất, cho rằng (tôi là) đất, cho rằng (tôi) trong đất, cho rằng (tôi) từ đất, cho rằng đất là của tôi, rồi tham đắm đất.’
6. pathaviṃ abhinandati
Dịch: ‘tham đắm đất’.
Động từ abhinandati có thể mang nhiều nghĩa như: thích thú, hoan hỷ, tán thành, vui thích, mong cầu hoặc tham luyến.
Người dịch chọn ‘tham đắm’ vì sắc thái của từ này trong bài kinh gần với sự chấp thủ hơn là sự yêu thích thông thường.
Về thuật ngữ nandī
Cuối kinh Đức Phật dạy: Nandī dukkhassa mūlaṃ iti viditvā
Dịch: Sau khi biết rằng: ‘Tham đắm là căn nguyên của khổ.’
Nandī là một thuật ngữ quan trọng trong Pāḷi, thường được dịch là: thích thú, dục hỷ, sự hoan hỷ hoặc sự say mê. Tuy nhiên, nếu chỉ dịch là ‘thích thú’ hay ‘hỷ’ thì người đọc dễ nhầm với các trạng thái tâm thiện hoặc với hỷ trong thiền định.
Trong MN 38, Đức Phật dạy: yā vedanāsu nandī tadupādānaṃ ‘Chính sự tham đắm đối với cảm thọ là chấp thủ.’
Trong nhiều ngữ cảnh kinh điển, nandī xuất hiện như một trạng thái nằm rất gần với taṇhā (tham ái) và upādāna (chấp thủ). Vì vậy, trong bài kinh này, từ ấy được dịch là: ‘tham đắm’.